• Đăng ký

     UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG             CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG                            Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUY ĐỊNH

Đào tạo cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

(ban hành kèm theo Quyết định số 297/QĐ-CĐCĐHP–ĐT ngày 29/8/2014
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng)

>> Tải file (nhấn chuột)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Quy định này là văn bản cụ thể hóa “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27/12/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, áp dụng trong Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng (CĐCĐ HP), bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

 2. Quy định này áp dụng đối với sinh viên của Trường CĐCĐ HP nhập học từ năm 2014 trở đi thuộc các khoá đào tạo hệ chính quy, trình độ cao đẳng thực hiện theo hình thức tích luỹ tín chỉ.

Điều 2. Chương trình đào tạo, đề cương chi tiết học phần

1. Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) thể hiện: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình

2. Chương trình được Nhà trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung hoặc các quy định của Bộ GD&ĐT, được Hội đồng Khoa học và Đào tạo nhà trường thông qua và Hiệu trưởng ký quyết định ban hành để thực hiện trong toàn Trường. Khối lượng của mỗi chương trình không dưới 90 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 3 năm và 60 tín chỉ đối với khoá cao đẳng 2 năm.

3. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp. Mỗi khối kiến thức bao gồm các học phần bắt buộc và các học phần tự chọn để đảm bảo tính mềm dẻo của chương trình. Sinh viên lựa chọn các học phần tự chọn theo sự hướng dẫn của Nhà trường thông qua khoa, bộ môn chuyên ngành.

4. Đề cương chi tiết của từng học phần thể hiện số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần (có mẫu đề cương chi tiết học phần kèm theo).

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Phần lớn học phần có khối lượng từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Từng học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng do Trường quy định.

2. Các loại học phần:

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b) Học phần tự chọn theo hướng dẫn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn.

c) Học phần tự chọn tuỳ ý là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn tuỳ ý để tích luỹ đủ số học phần quy định cho mỗi chương trình.

d) Học phần tương đương là học phần thuộc một chương trình khác, nhưng được phép tích lũy để thay thế cho một học phần trong chương trình đào tạo đang theo học. Học phần tương đương phải có số tín chỉ quy định không thấp hơn và có nội dung trùng hợp với học phần mà nó thay thế không dưới 80%.

đ) Học phần thay thế là học phần được sử dụng để thay thế một học phần có trong chương trình đào tạo nhưng nay không đưa vào giảng dạy hoặc là học phần tự chọn thay cho học phần tự chọn khác mà sinh viên đã thi không đạt kết quả (xem các Khoản 1 và 2 Điều 12).

e) Học phần tiên quyết là học phần bắt buộc sinh viên phải học trước và thi đạt rồi mới được đăng ký học học phần có quy định học phần tiên quyết.

g) Học phần học trước là học phần sinh viên phải học trước khi học học phần có quy định học phần học trước (không nhất thiết sinh viên phải học xong và thi đạt hay không).

h) Học phần song hành: Hai học phần được gọi là song hành của nhau là khi sinh viên đăng ký học học phần này thì bắt buộc phải đăng ký học học phần kia.

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉđược quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 60 giờ thực tập tại cơ sở; 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án môn học; 60 giờ làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp.

4. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân (tự học). Để giảng dạy hoàn thành được một tín chỉ giảng viên phải dành ít nhất 30 giờ (được quy đổi bằng 9 giờ chuẩn) để soạn giáo án, bài tập tình huống, soạn đề cương chi tiết, chấm bài tập về nhà, bài thi, chuẩn bị khối lượng tự học cho sinh viên, đánh giá kết quả tự học của sinh viên, tiếp xúc, giải đáp cho sinh viên ngoài giờ lên lớp hoặc phát triển học phần. Sau khi kết thúc học phần, giảng viên có trách nhiệm trình bản Đề cương hướng dẫn sinh viên tự học và Phiếu theo dõi hướng dẫn tự học kèm theo bản kê khai giờ giảng để làm căn cứ thanh toán khối lượng hướng dẫn tự học của giảng viên.

Số tín chỉ, số tiết, thời gian tự học, thời gian làm việc của giảng viên, cách đánh giá học phần được quy định cụ thể trong đề cương chi tiết của từng học phần.

5. Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tính theo đơn vị học trình, thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.

6. Một tiết học được tính bằng 45 phút.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy

Thời gian hoạt động giảng dạy thường xuyên hàng ngày của Trường được tính từ 6 giờ 30 phút đến 17 giờ 35 phút và có thể được bố trí vào thứ bảy, chủ nhật.

Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của Trường, Trưởng phòng Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.

Chương II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Đào tạo trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tùy theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành đào tạo;

b) Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Nhà trường tổ chức thêm một kỳ học phụ để sinh viên có điều kiện được học lại; học bù, học cải thiện điểm hoặc học vượt. Mỗi học kỳ phụ có ít nhất 5 tuần thực học và 1 tuần thi.

2. Căn cứ khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho các chương trình, Hiệu trưởng dự kiến phân bổ số học phần cho từng năm học, từng học kỳ.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại khoản 1 của Điều này, cộng với 2 học kỳ đối với các khoá học dưới 3 năm; 4 học kỳ đối với các khoá học 3 năm. Trong mọi trường hợp, thời gian tối đa cho mỗi chương trình không vượt quá hai lần so với thời gian thiết kế cho chương trình đó.

Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

Điều 7. Đăng ký nhập học

1. Khi đăng ký nhập học, sinh viên phải nộp đầy đủ các giấy tờ do Trường quy định. Tất cả giấy tờ khi sinh viên nhập học phải được xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân do Phòng Công tác học sinh, sinh viên quản lý, lưu giữ lâu dài và không hoàn trả sinh viên (trừ các giấy tờ đăng ký và di chuyển nghĩa vụ quân sự của nam sinh viên).

2. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận người đến học là sinh viên chính thức của trường và cấp cho họ:

a) Mã số sinh viên (theo quy định tại Quyết định số 298/QĐ-CĐCĐHP-ĐT ngày 29/8/2014 của Hiệu trưởng quy định mã ngành đào tạo quy ước, mã số học sinh, sinh viên và mã số lớp chuyên ngành);

b) Thẻ sinh viên (do Phòng Công tác học sinh, sinh viên cấp);

c) Sổ Đăng ký học tập;

d) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.

4. Sinh viên nhập học được Nhà trường cung cấp đầy đủ các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

Điều 8. Sắp xếp sinh viên vào học các chương trình hoặc ngành đào tạo

Căn cứ chỉ tiêu tuyển sinh, nguyện vọng của thí sinh và số lượng thí sinh thực tế nhập học, Nhà trường bố trí chuyên ngành học cho thí sinh trúng tuyển cao đẳng phù hợp theo quy chế của Bộ GD&ĐT và quy định của Nhà trường.

Điều 9. Tổ chức lớp học

1. Lớp chuyên ngành là lớp sinh viên được tổ chức theo từng ngành hoặc chuyên ngành dựa trên số lượng sinh viên nhập học từng khóa học. Lớp chuyên ngành bao gồm các sinh viên cùng ngành hoặc cùng chuyên ngành, theo học cùng một khóa học. Lớp chuyên ngành được thành lập, duy trì từ đầu khóa học cho đến khi các sinh viên tốt nghiệp khóa học, ra trường. Lớp chuyên ngành là tổ chức lớp để duy trì các sinh hoạt đoàn thể, văn hóa, thể thao, thi đua, khen thưởng và đánh giá kết quả rèn luyện của sinh viên:

a) Mỗi lớp chuyên ngành được mã hóa bằng ký hiệu riêng theo quy định tại Quyết định số 298/QĐ-CĐCĐHP-ĐT ngày 29/8/2014 của Hiệu trưởng quy định mã ngành đào tạo quy ước, mã số học sinh, sinh viên và mã số lớp chuyên ngành;

b) Mỗi lớp chuyên ngành được bố trí một giáo viên chủ nhiệm kiêm cố vấn học tập. Giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm cố vấn về học tập cho sinh viên trong lớp như lập kế hoạch và đăng ký học tập học kỳ, năm học và khóa học; tổ chức các hoạt động ngoại khóa; tổ chức, chỉ đạo việc sinh hoạt lớp, hướng dẫn các hoạt động phong trào của sinh viên, tổ chức cho lớp sinh viên đánh giá kết quả rèn luyện từng học kỳ, xét khen thưởng, kỷ luật đối với sinh viên trong lớp. Việc sinh hoạt của lớp chuyên ngành phải được ghi biên bản, nhật ký trong “Sổ Giáo viên chủ nhiệm” do giáo viên chủ nhiệm quản lý. Sau khi kết thúc học kỳ, giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm nộp “Sổ Giáo viên chủ nhiệm” về Phòng Công tác Học sinh, sinh viên để lưu giữ lâu dài;

c) Mỗi lớp chuyên ngành có ban cán sự lớp, gồm Lớp trưởng, Lớp phó được Nhà trường chỉ định hoặc công nhận trên cơ sở ý kiến của tập thể lớp. Ban cán sự lớp chuyên ngành là đầu mối liên hệ giữa giáo viên chủ nhiệm và sinh viên trong lớp. Ban cán sự lớp được hưởng chế độ cộng điểm trong đánh giá kết quả rèn luyện.

2. Lớp học phần là lớp học được tổ chức theo từng học phần, dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Lớp học phần bao gồm các sinh viên cùng đăng ký học một học phần, cùng theo học một thời khóa biểu được bố trí ở cùng một giảng đường. Trong một học kỳ, mỗi học phần có thể có nhiều lớp học phần khác nhau. Việc tổ chức và quản lý các lớp học phần, bao gồm cả các lớp học lại ở học kỳ phụ (nếu có), được quy định như sau:

a) Mỗi lớp học phần do một hoặc một số giảng viên giảng dạy, phụ trách;

b) Mỗi lớp học phần được mã hóa bằng một ký hiệu duy nhất, gồm 10 ký tự ở dạng: YYXXABCZZZ, trong đó:

- Nhóm 2 ký tự đầu tiên “YY” là 2 chữ số cuối cùng của năm tổ chức lớp học phần (lấy theo ngày ký quyết định thành lập lớp học phần);

- Nhóm 2 ký tự tiếp theo “XX” là số thứ tự của lớp học phần được tổ chức trong năm; trường hợp số thứ tự này nhỏ hơn 10 thì thêm số “0” vào trước;

- Nhóm 6 ký tự sau cùng “ABCZZZ” là mã số của học phần.

- Ví dụ:

+ Ký hiệu 1401MLN101 là mã số của lớp học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1”, lớp thứ nhất của năm 2014; 1402PL0101 là mã số của lớp học phần “Pháp luật đại cương”, lớp thứ hai của năm 2014;

+ Giả sử ở học kỳ I năm học 2014–2015 Nhà trường tổ chức 2 lớp học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1” (là 2 lớp đầu tiên trong năm 2014). Khi đó, lớp thứ nhất sẽ được ký hiệu là 1401MLN101, lớp thứ hai sẽ được ký hiệu là 1402MLN101. Sau khi kết thúc học kỳ I, vào cuối tháng 01/2015, do nhu cầu, Nhà trường tổ chức một lớp học lại đối với học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1”. Khi đó, lớp học phần này sẽ được ký hiệu là 1501MLN101. Tiếp theo, đến học kỳ hè của năm học 2014–2015 Nhà trường lại tổ chức 1 lớp học lại nữa đối với học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1” thì sẽ ký hiệu là 1502MLN101. Sau đó, khi vào năm học mới 2015–2016, lớp học phần “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin 1” tiếp theo sẽ được ký hiệu là 1503MLN101 (lớp thứ 3 trong năm 2015, là lớp được tổ chức cho sinh viên cao đẳng nhập học năm 2015, học lần đầu);

b) Mỗi lớp học phần có ban cán sự lớp, gồm Lớp trưởng, Lớp phó được Nhà trường chỉ định hoặc công nhận trên cơ sở ý kiến của tập thể lớp ngay khi bắt đầu vào học. Ban cán sự lớp học phần là đầu mối liên hệ giữa giảng viên giảng dạy học phần, trợ giảng và sinh viên trong lớp. Ban cán sự lớp học phần có trách nhiệm nhận, trả, ghi chép và quản lý “Sổ Cán sự lớp học phần” trong các buổi học của lớp; điểm danh, báo cáo sĩ số lớp học, ký xác nhận và trình giảng viên ký xác nhận buổi học trong “Sổ Cán sự lớp học phần” dưới sự chỉ đạo của Phòng Công tác Học sinh, sinh viên. Ban cán sự lớp được hưởng chế độ cộng điểm trong đánh giá kết quả rèn luyện;

c) Phòng Đào tạo có trách nhiệm bố trí thời khóa biểu giảng dạy cho các lớp học phần, bố trí người theo dõi tiến độ giảng dạy và sĩ số lớp học thực tế hàng ngày để có sự điều chỉnh, bổ sung thời khóa biểu kịp thời; việc theo dõi tiến độ giảng dạy và sĩ số lớp học thực tế hàng ngày phải được ghi chép vào “Sổ Tiến độ” có xác nhận đầy đủ của giảng viên lên lớp và cán sự lớp học;

d) Số sinh viên tối thiểu để tổ chức lớp học phần: Tùy theo từng loại học phần, mỗi lớp học phần phải có số lượng sinh viên tối thiểu do Hiệu trưởng quy định. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học phần sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác có lớp, nếu chưa đảm bảo đủ quy định về khối lượng học tập tối thiểu cho mỗi học kỳ.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu mỗi năm học, Nhà trường thông báo lịch trình học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ dạy, đề cương chi tiết, điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần.

2. Ở học kỳ thứ nhất và thứ hai của khóa học, sinh viên học theo thời khóa biểu do Trường sắp xếp. Từ học kỳ thứ ba của khóa học trở đi, trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký học các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với Phòng Đào tạo trên cơ sở thời khóa biểu chung của Trường và tiến trình học của chuyên ngành đang theo học. Có 3 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký sớm, đăng ký bình thường và đăng ký muộn.

a) Đăng ký sớm là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng;

b) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

c) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác khi không có lớp.

3. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a) 14 tín chỉcho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ.

4. Sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ. Không hạn chế khối lượng đăng ký học tập của những sinh viên xếp hạng học lực bình thường.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

6. Phòng Đào tạo của Trường chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có chữ ký chấp thuận của cố vấn học tập trong “Sổ Đăng ký học tập”. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào “Phiếu Đăng ký học phần” lưu giữ tại Phòng Đào tạo. Việc đăng ký được thực hiện bằng cách nộp “Phiếu Đăng ký học phần” tại Phòng Đào tạo, đồng thời đăng ký trực tuyến trên máy tính nối mạng thông qua tài khoản sinh viên. Hình thức, cách thức và thời hạn đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ được Nhà trường thông báo cụ thể đến sinh viên trước khi thực hiện thông qua trang thông tin điện tử của Nhà trường.

Điều 11. Quy trình đăng ký và rút bớt các học phần đã đăng ký

1. Quy trình đăng ký học phần

a) Bước 1: Trước thời điểm bắt đầu học kỳ 3 tuần, dựa trên danh mục các học phần của chương trình có sẵn trong Sổ Đăng ký học tập và căn cứ thời khóa biểu các học phần sẽ giảng dạy trong học kỳ do Nhà trường công bố, sinh viên lựa chọn, dự kiến các học phần sẽ đăng ký học trong học kỳ phù hợp theo yêu cầu tại các Khoản 3, 4 và 5 của Điều 10 (ghi trực tiếp vào Sổ Đăng ký học tập theo hướng dẫn đi kèm);

b) Bước 2: Sinh viên xin ý kiến Cố vấn học tập về dự kiến của mình ở bước 1. Cố vấn học tập phải ghi rõ ý kiến, ngày, tháng, ký, ghi rõ họ tên trong Sổ Đăng ký học tập của sinh viên. Dựa trên ý kiến của Cố vấn học tập, sinh viên quyết định các học phần sẽ đăng ký học trong học kỳ;

c) Bước 3: Trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần, sinh viên tiến hành đăng ký chính thức các học phần sẽ học trong học kỳ thông qua website “Đăng ký học phần” của Nhà trường và nộp bản “Phiếu Đăng ký học phần” (điền theo mẫu cho sẵn) tại Phòng Đào tạo;

d) Bước 4: Trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ, sinh viên có thể rút bớt, đăng ký bổ sung các học phần mới thay cho các học phần mà Trường không mở lớp. Hết thời hạn này, các học phần mà sinh viên đã đăng ký sẽ được ghi nhận chính thức và được dùng làm căn cứ để đóng học phí học kỳ. Kết thúc 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc tuần đầu của học kỳ phụ, Phòng Đào tạo trực tiếp tổng hợp số liệu đăng ký chính thức của sinh viên, ghi vào cột “Ghi nhận chính thức”, sao lại 1 bản “Phiếu Đăng ký học phần” để theo dõi và chuyển bản chính về Phòng Tài chính – Kế toán làm căn cứ thu học phí.

2. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký và đã được ghi nhận chính thức chỉ được chấp nhận trong thời hạn 6 tuần sau ngày bắt đầu học kỳ chính, trong thời hạn 3 tuần sau ngày bắt đầu học kỳ phụ. Đối với các học phần được phép rút bớt, sinh viên không được hoàn lại học phí và sẽ nhận điểm W trong bảng điểm học phần (điểm W không tính vào điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy). Ngoài thời hạn quy định, việc rút bớt học phần đã đăng ký sẽ không được chấp nhận và học phần vẫn được giữ nguyên trong phiếu đăng ký học, nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F cho học phần này.

3. Điều kiện để được rút bớt các học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải có đơn gửi Phòng Đào tạo;

b) Được cố vấn học tập chấp thuận, đồng ý rút bớt các học phần đã đăng ký;

c) Không vi phạm khoản 3 Điều 10 của Quy định này.

Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt sau khi giảng viên phụ trách học phần nhận được giấy báo của Phòng Đào tạo.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D. Không hạn chế số lần học lại. Nếu học phần cần đăng ký học lại không còn mở lớp (do có sự thay đổi trong chương trình đào tạo), sinh viên phải đăng ký học lại và tích lũy các học phần thay thế theo danh mục do Trường công bố. Danh mục các học phần thay thế do Trưởng khoa chuyên môn đề xuất trình Hiệu trưởng phê duyệt, ban hành.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, đối với các học phần bị điểm D và C, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc học đổi sang học phần khác để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy. Điểm cao nhất trong các lần học khi đó sẽ được lấy làm điểm công nhận và được sử dụng để tính điểm trung bình chung tích lũy. Không giải quyết cho sinh viên học lại các học phần đã đạt điểm A và B.

4. Học phí học lại bằng 1,5 lần học phí học lần 1 ở học kỳ chính. Học phí học lại cũng được áp dụng đối với các trường hợp đăng ký học các học phần thay thế nêu ở Khoản 1 của Điều này, đăng ký học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác nêu ở Khoản 2 của Điều này và đăng ký học đổi sang học phần khác để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy nêu ở Khoản 3 của Điều này.

Điều 13. Vắng mặt đột xuất

Sinh viên vắng mặt đột xuất do bị ốm hoặc vì lý do đặc biệt, bất khả kháng trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải viết đơn xin phép gửi Trưởng phòng Công tác học sinh, sinh viên trong thời hạn 3 ngày làm việc sau ngày nghỉ đột xuất, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế (nếu bị ốm) hoặc chính quyền địa phương hay cơ quan có thẩm quyền khác (nếu vắng mặt vì lý do đặc biệt, bất khả kháng).

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

TT

Xếp hạng năm đào tạo

Khối lượng kiến thức tích lũy

1

Sinh viên năm thứ nhất

dưới 30 tín chỉ

2

Sinh viên năm thứ hai

từ 30 tín chỉ đến dưới 60 tín chỉ

3

Sinh viên năm thứ ba

từ 60 tín chỉ trở lên

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn gửi Hiệu trưởng (điền và nộp đơn theo mẫu quy định tại Phòng Văn thư) xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

 a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

 b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế;

 c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn gửi Hiệu trưởng (điền và nộp đơn theo mẫu quy định tại Phòng Văn thư) ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

Điều 16. Cảnh báo kết quả học tập, buộc thôi học

1. Cảnh báo kết quả học tập được thực hiện theo từng học kỳ, nhằm giúp cho sinh viên có kết quả học tập kém biết và lập phương án học tập thích hợp để có thể tốt nghiệp trong thời hạn tối đa được phép theo học chương trình. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học, dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo;

b) Tổng số tín chỉ của các học phần bị điểm F còn tồn đọng tính từ đầu khoá học đến thời điểm xét vượt quá 24 tín chỉ.

2. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Đã tự ý bỏ học từ một học kỳ chính trở lên;

b) Bị cảnh báo kết quả học tập 2 học kỳ liên tiếp;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy định này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Quy định này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của trường.

3. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Nhà trường có thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp sinh viên có nguyện vọng chuyển qua các chương trình đào tạo ở trình độ thấp hơn hoặc chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng ở Trường hoặc tại trường khác, thì những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm b, c khoản 2 của Điều này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ. Hiệu trưởng xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình

1. Học cùng lúc hai chương trình dành cho sinh viên có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Ngành đào tạo chính ở chương trình thứ hai phải khác ngành đào tạo chính ở chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất và sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu;

c) Trong quá trình sinh viên học cùng lúc hai chương trình, nếu điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 2,00 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

3. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy định này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất.

4. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

Điều 18. Chuyển trường

1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

a) Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c) Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;

d) Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào Trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;

c) Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;

d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.

3. Thủ tục chuyển trường:

a) Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường theo quy định của Nhà trường;

b) Hiệu trưởng trường có sinh viên xin chuyển đến quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Chương III

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19. Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là “Điểm học phần, ký hiệu là “ĐHP”) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần; điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp.

a) Điểm đánh giá bộ phận (bao gồm cả điểm thi kết thúc học phần) được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.Trọng số và hình thức đánh giá các loại điểm đánh giá bộ phận được quy định như sau:

TT

Loại điểm đánh giá bộ phận (ký hiệu)

Trọng số (%)

Hình thức, thời gian kiểm tra và thi/điều kiện dự thi, kiểm tra

1

Điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập (TX)

10

Kiểm tra đầu giờ hoặc trong giờ lên lớp, kiểm tra thực hành hoặc kiểm tra viết với thời gian £ 30 phút.

2

Điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận nhóm hoặc thực hành (NT)

10

Đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận nhóm hoặc nhận thức và thái độ thực hành

3

Điểm chuyên cần (CC)

10

Giảng viên căn cứ số tiết dự lớp và mức độ siêng năng, tích cực trong quá trình lên lớp để chấm điểm chuyên cần đối với từng sinh viên theo thang điểm từ 0 đến 10 như sau:

- Chấm từ 5 đến 10 điểm, nếu sinh viên vắng mặt từ 20% số tiết quy định trở xuống;

- Chấm từ 4 đến 0 điểm, nếu sinh viên vắng mặt trên 20% số tiết quy định.      

4

Điểm phần thực hành (TH)

20

Là điểm tổng hợp đánh giá phần thực hành (được chấm theo quy định như đối với một học phần thực hành độc lập).

5

Điểm thực tập (TT)

20

Là điểm tổng hợp đánh giá phần thực tập (được chấm theo quy định như đối với một học phần thực tập độc lập).

6

Điểm thi giữa học phần (KT1, KT2, KT3)

20

Làm bài thi, kiểm tra tại lớp hoặc làm bài tập về nhà sau khi hết chương hoặc phần (lý thuyết hoặc thực hành). Có thể chấm điểm viết tiểu luận sau thảo luận nhóm, viết chuyên đề liên hệ thực tế, báo cáo, thu hoạch, làm bài tập lớn hoặc đồ án môn học để lấy làm điểm thi giữa học phần.

7

Điểm tiểu luận (TL)

20

Viết bài luận liên hệ thực tế, theo chủ đề cho trước hoặc bài thu hoạch sau thảo luận nhóm hoặc sau tham quan kiến tập hay quan sát thí nghiệm.

8

Điểm thi kết thúc học phần (THP)

70

a) Sinh viên có đủ các điều kiện sau đây thì được dự thi kết thúc học phần:

- Dự lớp không dưới 80% số tiết quy định của học phần;

- Có đầy đủ các bài thi giữa học phần theo quy định và không có bài thi giữa học phần nào bị điểm 0.

b) Thời gian làm bài thi kết thúc học phần:

- Thi tự luận hoặc tự luận kết hợp với trắc nghiệm: tối thiểu 90 phút đối với học phần dưới 4 tín chỉ; tối thiểu 120 phút đối với học phần 4 tín chỉ trở lên;

- Thi trắc nghiệm: tối thiểu 30 phút đối với học phần dưới 4 tín chỉ; tối thiểu 45 phút đối với học phần 4 tín chỉ trở lên;

- Thi vấn đáp: Mỗi SV dự thi có 40 phút chuẩn bị và 20 phút trả lời.   

b) Số lượng và cách thức tính điểm đánh giá bộ phận được quy định như sau:

- Tùy đặc thù của từng môn học, học phần, giảng viên lựa chọn, đề xuất một số hoặc tất cả các hình thức đánh giá, lấy điểm bộ phận ở trên để ghi thành quy định trong đề cương chi tiết của học phần trình Hiệu trưởng phê duyệt, ban hành và thực hiện. Đối với các bài thi, kiểm tra viết hoặc bài thu hoạch, tiểu luận, bài tập lớn, đồ án môn học, giảng viên phải thông báo kết quả đánh giá, chấm điểm trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày sinh viên (SV) nộp bài, đồ án và phải trước ngày thi kết thúc học phần 1 tuần;

- Trong một học phần được giảng dạy ở một lớp, giảng viên có thể tổ chức đánh giá, cho điểm nhiều lần đối với mỗi loại điểm trọng số 10% và đối với từng SV khác nhau trong lớp. Điểm của mỗi lần đánh giá phải được ghi đầy đủ trong Phiếu Theo dõi lên lớp nộp lưu tại khoa sau khi kết thúc giảng dạy học phần. Đối với mỗi loại điểm trọng số 10%, nếu SV không dự kiểm tra, đánh giá hoặc đạt điểm dưới 5,0 ở lần kiểm tra, đánh giá chính thức thì giảng viên bố trí cho SV kiểm tra bù hoặc kiểm tra lại trong thời hạn không quá 2 tuần sau đó; điểm trọng số 10% được công nhận chính thức khi đó sẽ là điểm cao nhất trong các lần kiểm tra, đánh giá đã thực hiện. Đến thời điểm kết thúc học phần, số lượng điểm trọng số 10% của các SV trong lớp có thể là khác nhau. Giảng viên lấy điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 10% của mỗi SV làm kết quả điểm trọng số 10% công nhận, ghi trong Phiếu Theo dõi lên lớp để nhập vào Phần mềm Quản lý điểm (đối với mỗi SV trong mỗi học phần chỉ lấy 1 điểm trọng số 10% trung bình). Điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 10% được làm tròn đến một chữ số thập phân, ký hiệu là “TB1;

- Tùy đặc điểm của từng học phần, số lượng điểm đánh giá với trọng số 20% (trừ điểm phần thực hành, nếu có) được quy định như sau: Học phần có khối lượng học tập từ 1 đến 3 tín chỉ có tối thiểu 1 điểm trọng số 20%; từ 4 đến 5 tín chỉ có tối thiểu 2 điểm trọng số 20%; học phần 6 tín chỉ có tối thiểu 3 điểm trọng số 20%. Căn cứ đặc điểm, tính chất của học phần, giảng viên đề xuất hình thức đánh giá đối với từng điểm trọng số 20%. Sau khi được phê duyệt, hình thức đánh giá đối với từng điểm trọng số 20% phải được ghi trong đề cương chi tiết học phần để thống nhất thực hiện. Trong một học phần được giảng dạy ở một lớp, giảng viên có thể tổ chức đánh giá, cho điểm nhiều lần đối với mỗi loại điểm trọng số 20% và đối với từng SV khác nhau trong lớp. Điểm của mỗi lần đánh giá phải được ghi đầy đủ trong Phiếu Theo dõi lên lớp nộp lưu tại khoa sau khi kết thúc giảng dạy học phần. Đối với mỗi loại điểm trọng số 20%, nếu SV không dự thi, kiểm tra, đánh giá hoặc đạt điểm dưới 5,0 ở lần thi, kiểm tra, đánh giá chính thức thì giảng viên bố trí cho SV thi, kiểm tra bù hoặc thi, kiểm tra lại trong thời hạn không quá 2 tuần sau đó; điểm trọng số 20% được công nhận chính thức khi đó sẽ là điểm cao nhất trong các lần thi, kiểm tra, đánh giá đã thực hiện. Đến thời điểm kết thúc học phần, số lượng điểm trọng số 20% của các SV trong lớp có thể là khác nhau. Giảng viên lấy điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 20% của mỗi SV làm kết quả điểm trọng số 20% công nhận, ghi trong Phiếu Theo dõi lên lớp để nhập vào Phần mềm Quản lý điểm (đối với mỗi SV trong mỗi học phần chỉ lấy 1 điểm trọng số 20% trung bình). Điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 20% được làm tròn đến một chữ số thập phân, ký hiệu là “TB2.

2. Đối với các học phần thực hành: Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là “Điểm học phần, ký hiệu là “ĐHP”) được tính căn cứ vào các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: Điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học tập, thực hành (trọng số 10%); điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thực hành (trọng số 10%); điểm chuyên cần (trọng số 10%); điểm của các bài thực hành trong học kỳ (trọng số 20%) và điểm thi kết thúc học phần (trọng số 70%, ký hiệu là THP”), trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp.

a) Điểm đánh giá bộ phận (bao gồm cả điểm thi kết thúc học phần) được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

b) Số lượng và cách thức tính điểm đánh giá bộ phận được thực hiện như quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 19 của Quy định này. Điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 10% được làm tròn đến một chữ số thập phân, ký hiệu là “TB1. Điểm trung bình cộng của các điểm trọng số 20% được làm tròn đến một chữ số thập phân, ký hiệu là “TB2”.

c) Điều kiện dự thi kết thúc học phần thực hành:

- Dự lớp không dưới 80% số tiết quy định của học phần;

- Có đầy đủ điểm các bài thực hành theo quy định và không có bài thực hành nào bị điểm 0.

d) Hình thức thi kết thúc học phần: Thực hành bài tập kỹ năng tổng hợp, như làm hoàn chỉnh một sản phẩm, nguyên công hoặc dịch vụ.

đ) Thời gian làm bài thi kết thúc học phần: Không quá 2 giờ.

e) Biểu điểm của bài thi kết thúc học phần:

- Sản phẩm, kết quả: ......................... 7 điểm.

- Kỹ năng thao tác: ............................ 1 điểm.

- An toàn: .......................................... 1 điểm.

- Tổ chức nơi làm việc: ...................... 1 điểm.

Trong đó, các điểm Kỹ năng thao tác; An toàn và Tổ chức nơi làm việc chỉ được tính nếu sản phẩm, kết quả đạt từ 3,5 điểm trở lên.

3. SV không đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần ở kỳ thi chính được giải quyết như sau:

a) Đối với các học phần chỉ có lý thuyết, SV có dự lớp trên 70% số tiết quy định của học phần phải học bổ sung khối lượng học tập còn thiếu, làm các bài thi giữa học phần còn thiếu hoặc chưa đạt.

b) Đối với các học phần thực hành hoặc phần thực hành của các học phần có cả lý thuyết và thực hành, SV có tham gia rèn luyện kỹ năng thực hành trên 70% thời gian quy định phải tham gia rèn luyện bổ sung kỹ năng thực hành còn thiếu, làm các bài kiểm tra thực hành còn thiếu hoặc chưa đạt.

Trưởng khoa, trưởng bộ môn bố trí giáo viên, đề xuất lịch phụ đạo, kiểm tra bổ sung, gửi về Phòng Đào tạo tổng hợp trình BGH phê duyệt để thực hiện.

c) SV không đủ điều kiện dự thi kết thúc học phần nhưngkhông thuộc diện quy định tại các Điểm a và b của Khoản 3 Điều này sẽ phải đăng ký học lại học phần theo quy định tại Điều 12 như đối với SV có học phần bị điểm F.

4. Trách nhiệm của giảng viên: Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề thi, đề kiểm tra và cho điểm đánh giá bộ phận, trừ bài thi kết thúc học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Nhà trường tổ chức một kỳ thi chính và tùy điều kiện cụ thể, có thể tổ chức thêm một kỳ thi phụ để thi kết thúc học phần. Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính. Phòng Khoa học và Khảo thí lập lịch thi, cán bộ coi thi trình Hiệu trưởng phê duyệt chậm nhất 2 tuần trước ngày bắt đầu kỳ thi chính, 1 tuần trước ngày bắt đầu kỳ thi phụ. Lịch thi phải đảm bảo thời gian ôn thi cho các học phần theo quy định tại Khoản 2 của Điều này. Mỗi phòng thi tự luận hoặc trắc nghiệm trực tuyến phải có ít nhất 2 cán bộ coi thi, trong đó phải có 1 cán bộ coi thi là giảng viên.

2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ.

Điều 21. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình và phải có thời gian làm bài phù hợp với các Khoản 1 và 2 Điều 19 của Quy định này. Đối với các học phần thi viết, tự luận, Trưởng bộ môn phân công giảng viên ra đề thi, trực tiếp thẩm định, ký duyệt và chịu trách nhiệm về đề thi theo quy định của Nhà trường. Việc rút đề thi từ ngân hàng đề thi được thực hiện theo quy định của Hiệu trưởng đối với từng kỳ thi. Đối với các học phần thi trắc nghiệm trực tuyến, việc xây dựng ngân hàng câu hỏi thi và tổ hợp đề thi được thực hiện theo quy định riêng do Hiệu trưởng quyết định, ban hành.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên. Hiệu trưởng duyệt các hình thức thi thích hợp cho từng học phần.

3. Quy định về làm thi:

a) Việc bảo quản các bài thi, quy trình làm thi và lưu giữ các bài thi sau khi chấm được thực hiện theo các quy định trong Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001: 2008 của Nhà trường. Thời gian lưu giữ các bài thi viết, tiểu luận, bài tập lớn ít nhất là hai năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận, bài tập lớn.

b) Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm.

c) Thi vấn đáp hoặc thi thực hành kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Điểm thi vấn đáp hoặc thi thực hành được công bố công khai sau mỗi buổi thi. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn hoặc trưởng khoa quyết định.

4. Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải được ghi, công bố và lưu giữ như sau:

a) Sau khi nhận được Bảng điểm học phần từ Phòng Khoa học và Khảo thí, giáo vụ khoa, trung tâm có trách nhiệm soát lại các điểm đánh giá bộ phận (điểm chuyên cần, điểm thực hành và các điểm kiểm tra) bằng cách đối chiếu điểm đánh giá bộ phận in trong Bảng điểm học phần với điểm đánh giá bộ phận tương ứng ghi trong Phiếu Theo dõi lên lớp; giáo vụ khoa ký, ghi rõ họ tên vào Bảng điểm học phần để xác nhận đã soát lại điểm đánh giá bộ phận rồi trình Trưởng khoa ký xác nhận. Giáo vụ khoa có trách nhiệm sao Bảng điểm học phần thành 4 bản, 1 bản gửi Phòng Đào tạo, 1 bản gửi Phòng Khoa học và Khảo thí, 1 bản gửi Phòng Công tác Học sinh, sinh viên để thông báo đến HSSV và 1 bản lưu tại khoa, trung tâm; bản chính nộp lưu tại Văn thư nhà trường;

b) Cán bộ văn thư có trách nhiệm tiếp nhận bản chính Bảng điểm học phần, đóng dấu “Công văn đến” để vào sổ và lưu giữ lâu dài theo quy định. Phòng Tổ chức – Hành chính có trách nhiệm tổ chức lưu giữ các Bảng điểm học phần tại Văn thư theo từng học phần riêng biệt (mỗi học phần được lưu giữ trong 1 cặp riêng). Trong thời hạn 2 ngày làm việc sau khi nhận được bản chính Bảng điểm học phần, Cán bộ văn thư có trách nhiệm quét Bảng điểm học phần thành file văn bản và gửi vào hộp thư điện tử This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. để phục vụ cho việc số hóa và công bố điểm trên website nhà trường;

c) Phòng Đào tạo có trách nhiệm tiếp nhận các bản sao Bảng điểm học phần, đóng cặp cùng danh sách phòng thi có chữ ký của sinh viên dự thi học phần để phục vụ nhu cầu tra cứu, xem xét quá trình đăng ký, học tập và điểm kết quả học tập của HSSV, đồng thời lưu giữ lâu dài, phục vụ thanh tra, kiểm tra khi được yêu cầu;

d) Phòng Công tác Học sinh, sinh viên có trách nhiệm tiếp nhận các bản sao Bảng điểm học phần, đóng quyển cùng “Sổ Cán sự lớp học phần” để phục vụ nhu cầu tra cứu, xem điểm kết quả học tập của HSSV và lưu giữ lâu dài, phục vụ tra cứu, thanh tra, kiểm tra khi được yêu cầu.

5. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính. Những sinh viên này chỉ còn quyền dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có) hoặc tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ. Sau khi hết quyền dự thi, nếu vẫn bị điểm F thì SV phải đăng ký học lại học phần theo quy định tại Điều 12 với số lần được dự thi như quy định đối với một học phần mới.

6. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính sẽ được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu. Trường hợp thi không đạt trong kỳ thi phụ, những sinh viên thuộc diện này được quyền dự thi lại một lần tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ. Trường hợp không có kỳ thi phụ, những sinh viên này sẽ được dự thi, sử dụng quyền thi lại tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ. Sau khi hết quyền dự thi, nếu vẫn bị điểm F thì SV phải đăng ký học lại học phần theo quy định tại Điều 12 với số lần được dự thi như quy định đối với một học phần mới.

7. Sinh viên có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính được dự thi lại một lần ở kỳ thi phụ gần nhất tiếp theo. Trường hợp không có kỳ thi phụ, những sinh viên thuộc diện này sẽ được dự thi lại tại các kỳ thi kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ. Sau khi thi lại, nếu vẫn bị điểm F thì SV phải đăng ký học lại học phần theo quy định tại Điều 12 với số lần được dự thi như quy định đối với một học phần mới.

Điều 22. Cách tính điểm học phần

1. Điểm tổng hợp đánh giá học phần (Điểm học phần) tính theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân, được tính bằng giá trị trung bình cộng theo trọng số của các loại điểm đánh giá bộ phận như sau:

[ĐHP] = 0,1 x [TB1] + 0,2 x [TB2] + 0,7 x [THP]

2. Điểm học phần tính theo Khoản 1 của Điều này được chuyển thành điểm chữ, điểm số theo thang điểm 4 và xếp loại học lực như sau:

Xếp loại

Điểm số (thang điểm 10)

Điểm chữ

Điểm số (thang điểm 4)

Xếp loại học lực

a) Loại đạt:

8,5 - 10

A

4

Giỏi

7,0 - 8,4

B

3

Khá

5,5 - 6,9

C

2

Trung bình

4,0 - 5,4

D

1

Trung bình yếu

b) Loại không đạt:

dưới 4,0

F

0

Kém

3. Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các kí hiệu như sau:

Đánh giá

Ký hiệu

Điểm số

Tình trạng

Những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung học kỳ

I

-

Chưa đủ dữ liệu đánh giá

X

-

Chưa nhận được kết quả thi

Những học phần không tính vào điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy

W

-

Học phần được phép rút theo quy định tại Khoản 2 Điều 11

Z

-

Sinh viên bị mất quyền dự thi do nghỉ quá số tiết quy định

4. Đối với những học phần được Nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.

5. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;

b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;

c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

6. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 5 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm nội quy thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.

7. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được giảng viên phụ trách học phần và Trưởng phòng Đào tạo cho phép;

b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, bất khả kháng được giảng viên phụ trách học phần và Trưởng phòng Đào tạo chấp thuận.

Trừ các trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định, trước khi bắt đầu học kỳ mới kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận còn nợ để được chuyển điểm. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.

8. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Khoa học và Khảo thí chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.

9. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:

a) Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.

b) Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Điều 23. Cách tính điểm trung bình chung

1. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:

Trong đó:

A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy;

ai là điểm của học phần thứ i;

ni là số tín chỉ của học phần thứ i;

n là tổng số học phần trong chương trình.

2. Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo kết quả thi kết thúc học phần ở lần thi thứ nhất (điểm theo thang điểm 10), với điều kiện số tín chỉ mà sinh viên đã đăng ký trong học kỳ đó phải không thấp hơn số tín chỉ tối thiểu quy định cho 1 học kỳ trong chương trình tại Điểm a, Khoản 3 Điều 10 của Quy định này. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét cảnh báo kết quả học tập, xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm thi kết thúc học phần cao nhất trong các lần thi (tính điểm theo thang điểm chữ tại Khoản 1 Điều này).

3. Điểm học phần trong học kỳ phụ được tính vào học kỳ chính liền trước đó và thay thế điểm đã có, nếu kết quả cao hơn (bao gồm cả các học phần đã đạt nhưng học lại để cải thiện điểm).

Chương IV

XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 24. Thực tập cuối khóa, làm đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp

1. Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:

a) Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên có điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 7,0 trở lên (theo thang điểm 10). Đồ án, khoá luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng 5 tín chỉ. Hình thức và thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được Nhà trường quy định riêng tùy theo đặc thù của từng ngành đào tạo;

b) Học và thi một số học phần chuyên môn: sinh viên không đủ điều kiện hoặc không muốn làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình.

2. Đối với một số ngành đào tạo đòi hỏi phải dành nhiều thời gian cho thí nghiệm hoặc khảo sát để sinh viên hoàn thành đồ án, khoá luận tốt nghiệp, Nhà trường có thể bố trí thời gian làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp kết hợp với thời gian thực tập chuyên môn cuối khoá.

Điều 25. Đánh giá đồ án, khoá luận tốt nghiệp

1. Tùy theo từng chương trình, Hiệu trưởng quy định cách thức đánh giá đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Việc đánh giá mỗi đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải do ít nhất 2 giảng viên đảm nhiệm. Kết quả đánh giá đồ án, khóa luận tốt nghiệp phải được công bố trong thời hạn 3 tuần kể từ ngày sinh viên nộp đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

2. Điểm của đồ án, khoá luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm chữ theo quy định tại điểm a và điểm b, khoản 2, Điều 22 của Quy chế này. Điểm đồ án, khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

3. Sinh viên có đồ án, khoá luận tốt nghiệp bị điểm F, phải đăng ký làm lại đồ án, khóa luận tốt nghiệp; hoặc phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn để thay thế, sao cho tổng số tín chỉ của các học phần chuyên môn học thêm tương đương với số tín chỉ của đồ án, khóa luận tốt nghiệp.

Điều 26. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Sinh viên được Nhà trường xét và công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo được quy định tại Điều 2 của Quy chế này;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

d) Thỏa mãn một số yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc ngành đào tạo chính và các điều kiện khác do Hiệu trưởng quy định (nếu có);

đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng – an ninh đối với các ngành đào tạo không chuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các ngành không chuyên về thể dục - thể thao;

e) Có đơn gửi Hiệu trưởng (nộp đơn theo mẫu quy định tại Phòng Văn thư) đề nghị được xét tốt nghiệp trong trường hợp đủ điều kiện tốt nghiệp sớm hoặc muộn so với thời gian thiết kế của khoá học.

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp nhà trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng khoa chuyên môn, Trưởng phòng Công tác Học sinh, sinh viên.

 3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 27. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo

1. Bằng tốt nghiệp cao đẳng được cấp theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành). Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:

TT

Hạng tốt nghiệp

Điểm trung bình chung tích lũy

1

Xuất sắc

từ 3,60 đến 4,00

2

Giỏi

từ 3,20 đến 3,59

3

Khá

từ 2,50 đến 3,19

4

Trung bình khá

từ 2,20 đến 2,49

5

Trung bình

từ 2,00 đến 2,19

2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có khối lượng của các học phần phải thi lại (học lại) vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;

b) Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần. Trong bảng điểm còn phải ghi chuyên ngành (hướng chuyên sâu) hoặc ngành phụ (nếu có).

 4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều 26 của Quy định này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.

5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng – an ninh, chứng chỉ giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Nhà trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Quy định này.

Chương V

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 28. Tổ chức thực hiện

Trên cơ sở Quy định này, Trưởng các đơn vị trực thuộc Trường căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng các quy trình tác nghiệp cụ thể, thiết lập các văn bản, mẫu biểu trình Hiệu trưởng phê duyệt, ban hành để thực hiện.

Điều 29. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật đối với từng học phần đã vi phạm.

2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ các trường hợp quy định tại Khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với cán bộ coi thi và sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành./.

Nơi nhận:                                                                                                                   HIỆU TRƯỞNG

- Sở GD&ĐT HP (để báo cáo);

- BGH;                                                                                                                         

- Như Điều 3;                                                                                                         (Đã ký)

- Toàn thể viên chức, nhà giáo (qua email);

- Website trường;

- Lưu: VT, ĐT, 20.                                                                          TS. Đồng Tố Thanh

THI ĐUA, KHEN THƯỞNG

Tổng kết Hội giảng và Thi Viên chức hiểu biết năm học 2015–2016
TỔNG KẾT HỘI GIẢNG VÀ THI VIÊN CHỨC HIỂU BIẾT NĂM HỌC 2015 - 2016 Chiều ngày 07/10/2016, tại hội trường Cơ sở 1, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hải Phòng đã tổ chức Tổng kết Hội giảng và...
Mời bạn vui lòng điền Phiếu Thăm dò phía bên phải trên đây.

Tin, bài khác

Đồng hành cùng tri thức
Tư Liệu